CTCP Xây dựng và Sản xuất Vật liệu xây dựng Biên Hòa (VLB) là doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực khai thác và chế biến khoáng sản, đặc biệt là đá xây dựng tại khu vực Đồng Nai – trung tâm cung cấp đá xây dựng lớn nhất khu vực Đông Nam Bộ. Với lợi thế là doanh nghiệp có tổng trữ lượng đá lớn, cùng thời hạn khai thác cao so với các doanh nghiệp cùng ngành niêm yết trên sàn chứng khoán. Công ty hiện sở hữu 5 mỏ đá chính gồm Thạnh Phú 1, Thiện Tân 2, Tân Cang 1, Soklu 2 và Soklu 5 với tổng công suất khai thác được cấp phép khoảng 5,7 triệu m³/năm và tổng trữ lượng nguyên khối còn lại khoảng 84,4 triệu m³ tại cuối năm 2025.
Nhờ sở hữu các mỏ đá có vị trí thuận lợi gần các dự án hạ tầng trọng điểm như Sân bay Long Thành, cao tốc Biên Hòa – Vũng Tàu, Vành đai 3 TP.HCM và các tuyến kết nối khu vực phía Nam, VLB đang có lợi thế cạnh tranh về chi phí vận chuyển – yếu tố đặc biệt quan trọng trong ngành đá xây dựng. Trong bối cảnh nhu cầu vật liệu tiếp tục duy trì ở mức cao trong giai đoạn 2026–2028, VLB được kỳ vọng tiếp tục hưởng lợi từ chu kỳ đầu tư công tại miền Nam.
Kết quả kinh doanh
Kết quả kinh doanh của VLB duy trì tăng trưởng ổn định trong giai đoạn 2023–2025 nhờ nhu cầu đá xây dựng tăng cao từ các dự án hạ tầng. Tiếp nối sang năm 2026, trong quý 2/2026 VLB ghi nhận doanh thu thuần đạt 440 tỷ đồng, tăng 25% so với quý trước (QoQ) và tăng 7,8% so với cùng kỳ (YoY). Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, VLB hoàn thành 56% kế hoạch doanh thu cả năm với mức 792 tỷ đồng, tăng 6% YoY.
LNST trong Q2/2026 đạt 374 tỷ đồng, chủ yếu nhờ ghi nhận khoản thu nhập khác 344 tỷ đồng liên quan đến tiền cấp quyền khai thác khoáng sản đã nộp thừa giai đoạn 2014 – T6/2025. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, LNST của VLB đạt 449 tỷ đồng, tăng 225,9%, chủ yếu nhờ khoản thu nhập bất thường giúp hoàn thành 200% kế hoạch lợi nhuận cả năm. Nếu loại trừ khoản thu nhập khác 344 tỷ đồng, LNTT hoạt động kinh doanh cốt lõi vẫn đạt khoảng 212 tỷ đồng, tăng khoảng 25% YoY, cho thấy hiệu quả khai thác và tiêu thụ vẫn duy trì tích cực.
Biên lợi nhuận gộp đạt 32,4%, cải thiện so với mức 28,4% cùng kỳ. Nhìn chung vị thế của VLB trong ngành khai thác đá vẫn duy trì được tính ổn đinh. Đáng chú ý ở biên lãi ròng tăng vọt khi chênh lệch đến từ khoản hoàn nhập 1 lần như đã đề cập phía trên.
Sức khỏe tài chính lành mạnh, không sử dụng nợ vay
VLB duy trì cấu trúc tài chính rất an toàn nhờ lượng tiền mặt lớn. Tại ngày 30/06/2026, tiền và các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn đạt khoảng 800 tỷ đồng, chiếm 60% tổng tài sản, tăng 18% YoY và tăng 7% so với cuối năm 2025. Đặc biệt, VLB không sử dụng nợ vay, điều này không tạo áp lực về nghĩa vụ chi phí tài chính.
Mô hình bán hàng thu tiền nhanh tại mỏ giúp VLB hạn chế rủi ro công nợ, đồng thời duy trì nguồn tiền gửi lớn tạo thêm thu nhập tài chính trong môi trường lãi suất cao.
Vị trí mỏ thuận lợi và nguồn trữ lượng lớn phục vụ đầu tư công
Trong ngành đá xây dựng, lợi thế cạnh tranh lớn nhất là vị trí mỏ và khả năng vận chuyển. Do chi phí vận chuyển chiếm tỷ trọng đáng kể trong giá thành, các nhà thầu thường ưu tiên lựa chọn nguồn đá gần khu vực thi công nhằm tiết kiệm thời gian và tối ưu chi phí.
VLB sở hữu các mỏ nằm tại khu vực Đồng Nai, đặc biệt với 3 mỏ lớn chính bao gồm
(1) Tân Cang 1:công suất 1,5 triệu m³/năm, trữ lượng còn lại khoảng 22,6 triệu m³, thời hạn khai thác tới T1/2039
(2) Thạnh Phú 1: công suất 1,8 triệu m³/năm, trữ lượng còn lại khoảng 35,4 triệu m³, thời hạn khai thác tới T7/2042.
(3) Thiện Tân 2: công suất 1,5 triệu m³/năm, trữ lượng còn lại khoảng 22,5 triệu m³, thời hạn khai thác tới T6/2038
Bên cạnh 3 mỏ đá lớn, Q3/2025 VLB đã được tái khởi động trở lại với 2 mỏ Soklu 2 và 5. Trước đó giấy phép khai thác của Soklu 5 hết hạn vào giữa năm 2024 và Soklu 2 hết hạn vào đầu năm 2025. Việc 2 mỏ này tái khởi động bổ sung thêm khoảng 900.000m3/năm vào công suất khai thác của VLB. Ngoài đá xây dựng, ba mỏ lớn gồm Tân Cang 1, Thạnh Phú 1 và Thiện Tân 2 còn sở hữu khoảng 12,55 triệu m³ đất san lấp và đá phong hóa, tạo thêm dư địa bổ sung doanh thu.
Trong tổng năng lực 5,7 triệu m3 đá mỗi năm, trong năm 2026 VLB được phân bổ cung cấp 1,6 triệu m3 đá cho sân bay Long Thành, tính đến giữa tháng 6 năm 2026, VLB đã hoàn thành 50% khối lượng, cho thấy vị thế, năng lực và chất lượng đá đảm bảo cung ứng cho công trình hạ tầng trọng điểm phía Nam.
Rào cản gia nhập ngành cao, lợi thế từ giấy phép khai thác dài hạn
Ngành khai thác đá xây dựng có rào cản gia nhập lớn do quá trình cấp phép mỏ kéo dài, yêu cầu nhiều thủ tục về tài nguyên, môi trường và đất đai. Rào cản này khiến thị trường đá xây dựng không đủ năng lực cung cấp. Đối với VLB với trữ lượng hiện tại đủ để khai tác trong vòng 15-20 năm tới.
Các mỏ đang được khai thác thuộc các doanh nghiệp đang niêm yết
Trong khi đó, nhiều doanh nghiệp cùng ngành có thời hạn khai thác ngắn hơn cùng áp lực thủ tục gia hạn mỏ cũng như các vấn đề về pháp lý. Điều này giúp VLB duy trì lợi thế về nguồn cung ổn định trong trung hạn.
Ở các khu vực mỏ (1), (2), và (3) có vị trí gần nhất với khu vực thi công dự án Sân Bay Long Thành cũng như Cao tốc Biên Hòa – Vũng Tàu. Tuy nhiên, mỏ Thiện Tân 7 của KSB (Khu vực 3) hay và Tân Cang 3 (Khu vực 1) của DHA lại có công suất khá thấp thì sẽ khó cạnh tranh được so với trữ lượng tại Tân Cang 1 hay Thiện Tân 2 của VLB. Hơn nữa, mỏ đá Thạnh Phú 2 của DHA hiện đang trong quá trình thỏa thuận với VLB để giải quyết các vấn đề liên quan đến chồng lấn đất khai thác, hiện tại mỏ này đang gần hết thời gian khai thác trong năm nay và chưa có thông tin gia hạn mới.
Chính sách cổ tức tiền mặt hấp dẫn
VLB duy trì chính sách chi trả cổ tức bằng tiền mặt đều đặn cho cổ đông với tỷ lệ chi trả cổ tức ở mức 25 – 35% trong nhiều năm. Năm 2025, tỷ lệ chi trả cổ tức đạt 49%, vượt kế hoạch ban đầu ở mức 35% (Bao gồm đợt 1: 30% – 3.000 đồng/CP vào T12/2025 và đợt 2: 19% – 1.900 đồng/CP vào T7/2026). Nhờ khả năng thu tiền nhanh thông qua mô hình thu tiền ngay, và kết quả kinh doanh tích vực, giúp doanh nghiệp có thể đảm bảo tỷ lệ chi trả cổ tức ở mức cao qua các năm.
– Cổ tức năm 2025: 4.900 đồng/cổ phiếu.
– Kế hoạch năm 2026: tối thiểu 3.500 đồng/cổ phiếu.
Nhu cầu đá xây dựng tại Miền Nam tăng mạnh
Chu kỳ đẩy mạnh triển khai hàng loạt dự án đầu tư công, tại các khu vực đặc biệt ở Đồng Nai với dự án Sân Bay Long Thành là tâm điểm đầu tư hạ tầng thì Khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long như Siêu dự án APEC 2027, Cao tốc Cà Mau – Đất Mũi, Đất mũi – Đảo Hòn Khoai, Châu Đốc – Cần Thơ – Sóc Trăng…) cũng đang nổi lên với nhu cầu tiêu thụ đá mạnh mẽ, tuy vậy khu vực này khá ít mỏ và chủ yếu phụ thuộc vào đá vận chuyển từ khu vực Đông Nam Bộ bằng sà lan. Với nguồn cung hạn chế, hiện Đồng Nai đang đóng vai trò nguồn cung quan trọng để cung ứng cho các dự án trong khu vực trên.
Tại Đồng Nai nguồn cung mới có thể gia tăng từ 13 mỏ đá mới đang thực hiện triển khai đấu giá với trữ lượng khoảng 58,8 triệu m3. Tuy nhiên, tính đến tháng 8 năm 2026, vẫn chưa ghi nhận mỏ nào trong 13 mỏ trên đi vào khai thác thương mại, do vậy tác động lên nguồn cung trong năm 2026 vẫn là hạn chế. Nhưng mức độ khan hiếm nguồn cung dự kiến có thể giảm dần từ 2027 trở đi, khi này thu hẹp dư địa cho các doanh nghiệp khai thác kinh doanh đá nói chung và VLB nói riêng.
Tổng kết lại, VLB đang sở hữu 3 lợi thế lớn gồm (1) quỹ mỏ đá lớn với thời gian khai thác dài, (2) vị trí chiến lược nhu cầu cao cho hạ tầng phía Nam và (3) nền tảng tài chính an toàn với tỷ trọng tiền mặt cao, không nợ vay. Trong giai đoạn 2026–2028, khi chu kỳ đầu tư công tiếp tục mở rộng sang các dự án mới, VLB có khả năng duy trì vị thế là một trong những doanh nghiệp vật liệu xây dựng hưởng lợi rõ nhất từ nhu cầu đá xây dựng khu vực phía Nam.







